MỐI LIÊN HỆ VỀ NGUỒN GỐC TỘC NGƯỜI TÀY VÙNG BIÊN GIỚI HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH VÀ NGƯỜI CHOANG KHU PHÒNG THÀNH, TỈNH QUẢNG TÂY, TRUNG QUỐC

08/03/2021 11:43

      Bình Liêu là một huyện miền núi ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, cách thành phố Hạ Long hơn 100km. Huyện Bình Liêu giáp với các huyện Tiên Yên, Hải Hà, Đầm Hà của tỉnh Quảng Ninh và tiếp giáp với huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn; tiếp giáp với Phòng Thành Cảng thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, nước CHND Trung Hoa.

     Khu Phòng Thành có dân số 717.966 người. Dân cư bao gồm: người Hán (390.286 người, chiếm 54,36%), người Choang (287.207 người, chiếm 40%), người Dao (26.749 người, chiếm 3,73%), người Kinh (còn gọi là người Việt, 12.288 người, chiếm 1,71%), còn lại 0,2% thuộc các dân tộc thiểu số khác. Mật độ dân số 116 người trên 1 km² và tốc độ tăng dân số 7,75%/năm[1] (số liệu tổng hợp năm 2002). Trấn Ðồng Trung – một đơn vị hành chính của huyện Ninh Minh, tương đương với đơn vị hành chính cấp xã ở Việt Nam,giáp huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh; trấn gồm Ðồng Trung xã khu và 6 thôn ủy hội: Bản Ðiển, Ðồng Trung, Khôn Mẫn, Na Lệ, Bản Hưng, Trượng Nghĩa (Tràng Nhì).

      Trên địa giới huyện Bình Liêu, sau phân giới cắm mốc, đường biên giới chính thức là 42,7km, đi qua địa giới hành chính 6 xã thuộc huyện Bình Liêu là Vô Ngại, Tình Húc, Đồng Tâm, Lục Hồn, Hoành Mô, Đồng Văn. Các cặp thôn bản kết nghĩa giữa huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) và trấn Đồng Trung, huyện Ninh Minh (Trung Quốc) gồm: Phai Làu - Tràng Nhì; Cửa Khẩu -  Đồng Trung; Đồng Cậm, Phặc Chè - Khôn Mẫn. Đây là các cụm dân cư biên giới có mối liên hệ thân thiết từ lâu đời. Bài viết đề cập đến mối liên hệ nguồn gốc tộc người Tày vùng biên giới huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh với người Choang ở trấn Đồng Trung, khu Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

     Người Tày được hình thành trong mối quan hệ đa dạng và có sự giao lưu với các tộc người khác. Theo Nguyễn Thị Yên (2010), về cơ bản người Tày ở Việt Nam gồm có: bộ phận người Tày bản địa, bộ phận người Tày gốc Kinh, bộ phận người Nùng hóa Tày và bộ phận người Tày thuộc các nhóm đồng tộc khác đến từ Trung Quốc[2].

     Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu, quanh khu vực thành Cổ Loa hiện vẫn còn tồn tại các địa danh có yếu tố “Nà” - vốn là tên gọi địa danh phổ biến ở vùng người Tày. Vào các dịp lễ hội đầu năm, ở khu vực dân cư quanh đền Hùng có tục nấu xôi ngũ sắc - là loại xôi có nguồn gốc từ người Tày, Nùng thường dâng lên tổ tiên vào dịp Tết mùng 3 tháng 3. Đây có thể coi là một trong những chứng cứ về sự có mặt của người Tày cổ ở nước ta nói chung và khu vực Việt Bắc nói riêng. Bộ phận người nói ngôn ngữ Tày - Thái cổ ở vùng thượng du, trải qua thời giandiễn biến của các quá trình lịch sử tộc người và sự phân định biên giới Việt - Trung đã dần tách ra khỏi tộc người - ngôn ngữ Choang ở vùng Lưỡng Quảng mà hình thành nên tộc người Tày ở Việt Nam. Đây chính là tổ tiên của những người Tày bản địa - hay là người Tày cổ ở khu vực Việt Bắc ngày nay. Trong sử sách cũ, một khoảng thời gian dài, từ đời Tống cho đến những năm đầu thế kỷ XX, các cư dân thuộc nhóm người Tày bản địa khu vực này (khu vực cận kề biên giới Việt Trung) được gọi là người Thổ. Cách gọi này có lẽ xuất phát từ quan niệm cho rằng họ là người bản thổ[3].

     Các thế hệ người Tày ở Bình Liêu phát triển vào khoảng những năm 1930 trở về trước, khi giới thiệu tên tự gọi với các dân tộc khác (Dao, Sán Chỉ, Hoa) vẫn thường dùng từ Thủ nhằn (Thổ nhân - người Thổ) kèm theo để giới thiệu mình là người Tày. Đây là một minh chứng góp phần khẳng định về nguồn gốc là người bản thổ của người Tày ở Bình Liêu.

    Các dân tộc khác gọi một bộ phận người Tày ở Bình Liêu là người Phian (phen), ngay cả một số bộ phận người Tày ở Bình Liêu cũng tự xưng với tên gọi cần Phen, hoặc Phén. Theo tài liệu Điều tra xã hội và lịch sử người Choang Quảng Tây thì: “Người Phén ở huyện Bình Liêu của tỉnh Quảng Ninh cũng là một bộ phận cấu thành nên người Tày ở Việt Nam. Người Phén là một chi hệ của người Choang có ước chừng hơn 1 vạn người cư trú ở hai xã Bản Ba và Động Trung thuộc huyện Phòng Thành, Quảng Tây (nơi tiếp giáp với huyện Bình Liêu, Quảng Ninh). Theo địa chí địa phương này thì vào đời Thanh họ cư trú ở khu vực thuộc đất của Quảng Đông, Quảng Tây và Việt Nam, vì ở nơi hoang vu, hẻo lánh nên mới có tên gọi là Pianren - Thiên nhân. Trong tiếng Hán, hai chữ Pianpi - thiên tịch nghĩa là hoang vu, hẻo lánh, tên gọi Phén có lẽ là âm đọc trại của từ Pian mà ra. Tổ tiên của người Phén là ở huyện Thượng Tư, Quảng Tây, chuyển đến cư trú ở biên giới Việt Trung, sau đó chuyển cư dần sâu vào Việt Nam, có mặt ở các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn. Trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX, người Phén ở khu vực Phòng Thành vẫn tiếp tục chuyển cư qua lại giữa hai khu vực cư trú của hai nước: từ năm 1922 đến năm 1949 có tới 173 hộ dân ở xã Động Trung, huyện Phòng Thành chuyển cư sang Việt Nam, chiếm 22,3% hộ dân ở xã này. Mặt khác, từ sau năm 1950 lại có không ít người Phén từ Việt Nam quay trở lại Phòng Thành”.[4]

    Tài liệu “Người Choang, các dân tộc ít người vùng biên giới Việt - Hoa trong triều đại nhà Tống” do Ngô Bắc dịch, có viết: “Tại Việt Nam, người dân Choang được xác định trong lịch sử là người Nùng, và gần đây hơn như sắc dân hỗn hợp Tầy-Nùng, là nhóm đông nhất trong 36 dân tộc ít người của Việt Nam. Các nhà chép sử biên niên người Hán đã sử dụng nhiều danh từ khác nhau để chỉ tổ tiên người Choang. Có nhiều nhóm dân liên hệ ở các tỉnh Quảng Đông, Vân Nam, ở Việt Nam và ở cả Thái Lan.

     Người Tày Bình Liêu trong nghi lễ Then (Ảnh: Nguyễn Trung Hà)

      Bình Liêu được coi là vùng đất cổ, có đường biên giới đất liền giáp Trung Quốc. Trong sản xuất nông nghiệp, cư dân Tày ở đây trồng lúa nước, đốt rạ làm phân bón, trồng dâu nuôi tằm. Trước đây, người Tày ở nhà sàn, ăn trầu; có tục bịt răng bằng vàng hoặc bạc; sùng bái việc bói toán như bói chân gà, tin vào ma quỷ. Cách thức chôn cất người chết sau khi sang cát trong tư thế ngồi (hiện nay người Tày vẫn thực hiện theo cách thức này). Những đặc điểm đó của cư dân Tày ở huyện Bình Liêu nằm trong các đặc điểm chung của người Bách Việt; gần với mô tả của tài liệu Điều tra xã hội và lịch sử người Choang Quảng Tây và tài liệu nói về người Choang như đã trình bày.

      Những thông tin trên đây góp phần khẳng định người Tày ở Bình Liêu chủ yếu là người Tày bản địa (còn gọi là người Thổ), ngoài ra còn có một bộ phận người Tày gốc Choang, Tày, Thái, Nùng từ các nước thuộc Bách Việt xưa thiên di sang đã bị Tày hóa. Đó là bằng chứng cho mối liên hệ gần gũi về nguồn gốc tộc người Tày và người Choang ở hai địa phương của hai quốc gia láng giềng.

      Trải qua những chặng đường và thăng trầm của lịch sử, đồng bào dân tộc Tày ở Bình Liêu luôn đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau cùng đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược để bảo tồn cuộc sống. Người Tày ở Bình Liêu và người Choang ở Khu Phòng Thành (Trung Quốc) có sự giao thoa và ảnh hưởng lẫn nhau về phong tục, tập quán sản xuất, sinh hoạt văn hóa, góp phần làm cho đời sống văn hóa ở Bình Liêu có nhiều mảng mầu, tạo ra nhiều giá trị độc đáo riêng có. Trong xu thế hiện nay, chúng ta cần nhận thức được đầy đủ, rõ ràng giá trị và cơ hội phát triển du lịch từ tài nguyên di sản văn hóa để có định hướng đúng đắn nhằm quy hoạch một cách phù hợp trên nguyên tắc vừa bảo tồn tối đa các giá trị nguyên gốc trong văn hóa truyền thống, vừa đáp ứng được các nhu cầu phát triển du lịch. Việc làm đó vừa bảo tồn, phát huy được những giá trị di sản văn hóa, đồng thời góp phần phát triển du lịch, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân. Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc Tày ở huyện biên giới Bình Liêu trong bối cảnh giao lưu, hợp tác quốc tế  trực tiếp phục vụ cho nội dung phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương./.

 

Tô Đình Hiệu



Gửi ý kiến phản hồi

Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin sở ban ngành
Bản đồ

Lịch công tác trống

Tin tiêu điểm
Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 130
Đã truy cập: 2817265
Thông tin báo chí