Lịch sử - văn hoá - xã hội

Đồng bào các dân tộc ở Bình Liêu có truyền thống đánh giặc giữ nước từ lâu đời. Trên đỉnh núi Cao Ba Lanh giáp biên giới có những hòn đá rất lạ, gõ vào đá phát ra tiếng kêu gần giống tiếng chuông và lại nghe tiếng vang ở cả các hòn khác. Có truyền thuyết về những ‘’hòn đá thần’’ có tiếng vang làm quân giặc bên kia biên giới gục ngã. Lại có chuyện người dũng sĩ cưỡi ngựa đánh giặc nay còn ghi dấu ở nhiều địa danh như Bãi Dáo, Mạ Trạt (ngựa trượt) và chuyện về giống tre mọc ngược do lời thề của người dũng sĩ khi chống gậy dừng chân. Sử sách còn ghi lại những trận đánh đuổi giặc cướp từ bên kia biên giới tràn sang, nhất là cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX-những năm đầu thời Nguyễn, bên kia là thời nhà Thanh.
Trong thời thuộc Pháp, từ đồn Bình Liêu, viên đội người Tày Thàm Cam Sláy, thường gọi là Đội Sáng, đã tổ chức binh sĩ làm binh biến. Được nhân dân hưởng ứng, sau khi đánh đồn Bình Liêu nghĩa quân ra vùng rừng núi phía đông lập căn cứ, căn cứ mở rộng đến vùng núi phía bắc Hà Cối và vùng núi PanNai của Móng Cái. Lực lượng đông dần lên tới vài trăm người, đã nhiều lần tập kích cả đồn Hà Cối và uy hiếp Móng Cái. Cuộc khởi nghĩa kéo dài gần 2 năm, chấn động cả vùng Đông Bắc, từ cuối năm 1917 đến giữa năm 1919 mới chịu thất bại.
Đến Cách mạng Tháng Tám, khi mấy sĩ quan Nhật vừa rút chạy, nhân dân Bình Liêu và binh lính đồn Bình Liêu đã nô nức chào đón Việt Minh. Tháng 11-1945 Bình Liêu thành lập chính quyền cách mạng. Giữa năm 1946 bọn Việt Cách theo chân quân Tưởng tràn vào Bình Liêu và đầu năm 1947 quân Pháp quay lại chiếm đóng, nhân dân Bình Liêu kiên cường kháng chiến. Cùng với Chiến dịch Biên giới, ngày 25-12-1950, quân đội ta vây đánh đồn Bình Liêu, buộc quân Pháp rút chạy, Bình Liêu được hoàn toàn giải phóng và trở thành căn cứ kháng chiến của tỉnh Hải Ninh. Các cơ quan đầu não của tỉnh từ đây tiến về các huyện đẩy mạnh chiến tranh du kích.
Về văn hoá, Bình Liêu có tập quán và nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc của nhiều dân tộc. Đồng bào không theo tôn giáo nào, cả huyện không có chùa, nhà thờ, chỉ có mấy ngôi đình nhỏ thờ thành hoàng. Các gia đình và dòng họ chỉ có tục thờ cúng tổ tiên. Sinh hoạt văn hoá xưa kia tập trung nhất là hội au-pò của người Tày và người Sán Chay vào các ngày 14,15,16 tháng 3 âm lịch. Những ngày đó, nam nữ thanh niên từ các bản kéo về thị trấn huyện lỵ gặp gỡ tâm tình, hát đối đáp giao duyên bằng các làn điệu dân ca. Người Tày có các điệu sli, tì làu, then. Người Sán Chay có hát xoóng cộ và thường từng đôi bạn gặp nhau suốt ngày 16. Trong ngày hội au-pò và những ngày đầu xuân ở bản làng, bà con còn chơi đàn tính, ném còn, chơi gụ.


Bản đồ

Lịch công tác trống

Tin tiêu điểm
Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 1203
Đã truy cập: 974049